2017/06/22

Con đường tìm kiếm đơn cực từ


Có bốn lực cơ bản trong tự nhiên, đó là lực hạt nhân mạnh, lực hạt nhân yếu, lực điện từ, lực hấp dẫn. Trong bốn lực này thì lực điện từ là lực giúp sinh vật có thể tri giác được thế giới. Không có lực điện từ, con người không có cảm giác, không thể nhìn, nghe, ngửi, nếm. Thậm chí cả tình yêu, tình cảm, các cảm giác tức giận, vui vẻ, đau buồn, hạnh phúc,... những thứ có vẻ phi vật chất cũng có được nhờ sự khéo léo đến không thể tin nổi của tự nhiên để sử dụng lực điện từ cho các hoạt động của con người. Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ ngày nay phần lớn dựa trên việc khai thác hiểu biết của con người vào lực điện từ.
Mọi người đã quen với một khái niệm "điện tích" (electric charge) từ kiến thức phổ thông, các ví dụ về điện tích là điện tử hoặc proton rất phổ biến. Về bản chất, điện tích chính là một đơn cực điện (electric monopole). Các điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, trái dấu thì hút nhau thông qua một môi trường đặc biệt gọi là điện trường đi từ điện cực dương sang điện cực âm. Thoạt nhìn thì chúng ta mong đợi một sự tương đương giữa điện và từ, hay còn gọi là đối xứng điện từ (các nhà khoa học rất thích sự đối xứng và không thích sự phá vỡ các đối xứng). Nếu có điện trường thì phải có từ trường. Điện trường đi ra từ điện tích dương, đi vào điện tích âm. Từ trường đi ra từ cực nam, đi vào cực âm. Vậy thì nếu có đơn cực điện thì phải có đơn cực từ. Có điện tích âm, điện tích dương thì phải có từ tích bắc và từ tích nam. Tuy vậy, mặc dù điện tích thì rất dễ quan sát nhưng từ tích, hay đơn cực từ thì dù bao cố gắng cho đến nay vẫn chưa trực tiếp quan sát thấy.
Nếu chúng ta lấy một thanh nam châm, với hai cực bắc nam, bẻ đôi nó thì ta thu được một thanh nam châm mới, vẫn với hai cực bắc và nam. Ta tiếp tục làm thế nhiều lần cho đến khi không thể bẻ đôi được nữa thì chúng ta sẽ thu được một lưỡng cực từ (magnetic dipole) chứ không phải là một đơn cực từ. Lưỡng cực từ nhỏ nhất chính là một spin của điện tử hoặc của proton và neutron. Spin là một tính chất của các hạt vi mô tuân theo các lí thuyết lượng tử. Để đơn giản, có thể xem nó tương tự như là từ trường phát ra do một hạt vi mô tự quay xung quanh nó.

Cách đây hơn 150 năm, Clerk Maxwell đã thống nhất được lực điện và lực từ trong hệ phương trình Maxwell nổi tiếng của ông. Hệ phương trình này có thể giải thích toàn bộ các hiện tượng điện và từ cổ điển và nó vẫn được dùng để sử dụng trong phần lớn các ứng dụng điện từ ngày nay. Trong hệ phương trình này có một phương trình nói rằng điện tích chuyển động sinh ra từ trường. Và nếu vậy, một điện tích tự xoay xung quanh nó sẽ sinh ra spin mà không cần một đơn cực từ. Phương trình Gauss cho từ trường trong hệ phương trình Maxwell cũng cho thấy không có đơn cực từ.
Lí thuyết điện từ cổ điển của Maxwell rất phù hợp với các quan sát và dữ liệu thực nghiệm. Tuy nhiên việc lí thuyết này cho rằng không có đơn cực từ không có nghĩa là nó không có mà nói đúng hơn là nó không có ở những nơi mà chúng ta đã quan sát. Một số nhà khoa học đã quan tâm đến vấn đề này. Năm 1894, nhà vật lí đạt giải Nobel là Pierre Curie nói rằng không có lí do gì để phủ nhận sự tồn tại của đơn cực từ. Năm 1931, một nhà vật lí đạt giải Nobel khác là Paul Dirac chứng minh rằng hệ phương trình Maxwell mở rộng có sự tồn tại của đơn cực từ với giá trị rời rạc giống như điện tích. Nếu các nhà khoa học tìm thấy sự tồn tại của đơn cực từ thì có sự tương đương, hay còn gọi là tính đối ngẫu, hay đối xứng giữa điện và từ.
Và thế là hành trình tìm đơn cực từ bắt đầu.
Sơ đồ thí nghiệm tán xạ neutron: neutron được bắn vào mẫu khi có từ trường tác dụng, các dây Dirac sẽ sắp xếp chống lại từ trường. Ở đầu các dây này là các đơn cực từ.

Trong gần 80 năm, các nhà khoa học không có bước tiến nào đáng kể trong việc quan sát đơn cực từ. Cho đến năm 2009, một nhóm các nhà khoa học Đức tuyên bố họ đã quan sát thấy đơn cực từ.[i] Họ nghiên cứu tính chất của tán xạ neutron trên đơn tinh thể Dysprosium Titanate. Neutron là một hạt không có điện tích nhưng có từ tính (lưỡng cực từ) nên chúng có thể tương tác từ với vật chất thông qua tương tác từ. Vật liệu này có cấu trúc rất đặc biệt. Các mô men từ của nguyên từ Dysprosium xắp xếp thành dạng ống bị xoắn lại tạo lòng ống có từ thông đi qua gọi là các dây Dirac. Trong quá trình tán xạ neutron, các nhà khoa học tác dụng một từ trường ở nhiệt độ thấp. Từ trường này phá vỡ đối xứng và định hướng của các dây, làm giảm mật độ dây Dirac và tạo đơn cực từ có thể quan sát được từ kết quả tán xạ neutron. Đơn cực từ trong nghiên cứu này không phải là một hạt cấu thành của vật chất mà là một hệ quả của việc xắp xếp lại các lưỡng cực từ.
Năm 2012, các nhà khoa học ở của Pháp công bố "đã tìm thấy bằng chứng về các giả hạt (quasiparticle) có tính chất tương tự đơn cực từ."[ii] Trong cơ học lượng tử, một hạt vi mô có đặc điểm lưỡng tính, tức là, nó vừa có tính chất của một hạt nhưng đồng thời vừa có tính chất của một sóng. Đơn cực từ là một sóng thì có 2 đặc điểm của sóng đó là nút sóng và pha của sóng. Các nhà khoa học nghiên cứu một hiện tượng đặc biệt khác tên là Ngưng tụ Bose-Einstein (BEC - Bose Einstein Condensate).  Thông thường chúng ta biết vật chất có thể ở ba trạng thái, từ nhiệt độ thấp đến nhiệt độ cao vật chất nói chung chuyển từ trạng thái rắn - lỏng - khí. Tuy nhiên, ở các điều kiện đặc biệt, khi nhiệt độ cực thấp hoặc cực cao, vật chất có thể ở các trạng thái khác. Khi nhiệt độ rất cao, vật chất ở trạng thái plasma, ở đó, các điện tử rời bỏ nguyên tử, phân tử để hoà thành một hỗn hợp đám khí điện tích. Khi nhiệt độ rất thấp, vật chất có thể ở một trạng thái lượng tử là ngưng tụ Bose-Einstein. Ở đó, các hạt vật chất trở thành các hạt boson (là các hạt truyền tương tác như là các quang tử, photon, hấp dẫn graviton,... khác với hạt fermion là các hạt thực như điện tử, proton, neutron, quark,... Các hạt boson có thể ở cùng một mức lượng tử năng lượng, các hạt fermion thì không thể) và có thể ở cùng một mức lượng tử năng lượng. Các nhà khoa học tạo một khe nhỏ (microcavity[iii]) trên một chất bán dẫn để nhốt các photon (quang tử) và các exciton ở nhiệt độ thấp 10 K. Khi các photon và exciton kết cặp với nhau, chúng tạo ra các polariton. Tập hợp các polariton tạo thành một loại chất lỏng polariton và có thể nghiên cứu tính chất của chúng bằng các kĩ thuật quang học. Khi chất lỏng này va chạm với một vật cản, ví dụ như là một sai hỏng trong cấu trúc microcavity thì nó sẽ tạo ra các sóng soliton (sóng giữ nguyên hình dạng lan truyền với một tốc độ không đổi). Một từ trường xuất hiện nhờ tính điện môi của microcavity sẽ tách mỗi soliton thành một cặp gồm hai bán-soliton có từ tích ngược nhau. Các bán-soliton tương tác ngược hướng với từ trường và có tính chất giống như các đơn cực từ một chiều. Thực ra các bán-soliton không thực sự là các đơn cực từ. Đơn cực từ phải là một hạt cơ bản giống như các điện tử. Nhưng sự tương tự của các bán-soliton cũng là một động viên lớn trong việc đi tìm từ tích thực sự.
Năm 2014, các nhà khoa học Phần lan tuyên bố đã tạo ra được đơn cực từ nhân tạo.[iv] Một từ trường tạo bởi một BEC ở nhiệt độ cực thấp, vài phần tỉ độ K. Hệ BEC pha loãng khi có tác động của từ trường ngoài sẽ xuất hiện các sai hỏng topo gắn với các dây xoắn tương đương với các dây Dirac của đơn cực từ. Nghiên cứu này dựa trên nghiên cứu lí thuyết trước đó cũng của nhóm này công bố năm 2009.[v] Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, cái mà họ tìm ra không phải là bản thân đơn cực từ mà chỉ là một sự tương tự đơn cực từ. Ngay sau đó, nhóm này cũng tìm ra một sự tương tự khác, một đơn cực lượng tử (quantum monopole) khi nghiên cứu ngưng tụ Bose-Einstein của một đám khí Rubidium ở trạng thái phi từ tính gần nhiệt độ không tuyệt đối.[vi]
Hình trái là đơn cực từ lượng tử, hình phải là đơn cực từ Dirac. Màu sắc thể hiện hướng của đơn cực từ, độ sáng thể hiện mật độ hạt [vi].
Gần đây nhất, một số nhà khoa học ở Mĩ và Tây Ban Nha công bố một công trình lí thuyết để giải thích tại sao chúng ta không thể quan sát trực tiếp đơn cực từ.[vii] Theo công trình này, tính đối ngẫu điện - từ, hay tính đối xứng điện từ không tồn tại hay nói một cách khác sự đối xứng bị phá vỡ do lực hấp dẫn có mặt ở khắp mọi nơi. Họ nghiên cứu lực hấp dẫn phá vỡ đối xứng như thế nào, đầu tiên là phá vỡ đối xứng của các hạt fermion và áp dụng cho các hạt boson. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lực hấp dẫn thẩm thấu khắp mọi nơi trong vũ trụ đã phá vỡ đối xứng điện từ. Điều này không bác bỏ sự tồn tại của đơn cực từ nhưng nó loại bỏ lí do tìm đơn cực từ dựa trên sự đối xứng giữa điện và từ.
Và con đường tìm kiếm đơn cực từ vẫn tiếp tục và khó khăn hơn.
Đọc thêm: http://sciencealert.com, http://phys.org.



[i] D.J.P. Morris et. al. Science 326 (2004) 411: 10.1126/science.1178868.
[ii] R. Hivet, et al. Nature Phys. 8 (2012) 724: DOI: 10.1038/NPHYS2406.
[iii] Một khe có khoảng cách bằng nửa bước sóng, hai mặt có tính phản xạ để khi ánh sang đến bị phản xạ đi lại giữa khe, ta có một photon đến đó bị nhốt ở khe. Trong khe người ta tạo một giếng lượng tử để nhốt một điện tử trong đó. Khi photon đến điện tử hấp thụ photon để nhảy lên trạng thái kích thích (exciton). Khi đó microcavity có một lỗ trống có điện tích dương. Cặp điện tử - lỗ trống hình thành một sự phân cực điện. Điện tử ở trạng thái kích thích một thời gian rồi quay trở lại trạng thái cơ bản đồng thời phát ra đúng photon hấp thụ ban đầu. Quá trình hấp thụ photon, nhảy lên trạng thái kích thích rồi lại trở lại trạng thái cơ bản và phát ra photon được lặp đi lặp lại thì khi đó người ta gọi exciton và photon ở trạng thái kết cặp (couple). Trạng thái này tạo ra một sự phân cực điện tử - lỗ trống nên gọi là polariton.
[iv] M. W. Ray et. al., Nature 505 (2014) 657–660: dx.doi.org/10.1038/nature12954.
[v] V. Pietilä and M. Möttönen, Phys. Rev. Lett. 103 (2009) 030401: doi.org/10.1103/PhysRevLett.103.030401
[vi] M. W. Ray et. al., Science 348 (2015) 544: DOI: 10.1126/science.1258289. Phys. Rev. X 7 (2017) 021023: doi.org/10.1103/PhysRevX.7.021023.
[vii] I. Agullo et. al., Phys. Rev. Lett. 118 (2017) 111301: DOI: 10.1103/PhysRevLett. 118.111301.

2011/02/20

Ngày tận thế 2012: khoa học hay sự tưởng tượng?

1. Ngày tận thế và các căn cứ tôn giáo, văn hóa
Ngày tận thế 2010 dựa vào dự đoán của người Maya về sự kết thúc đại lịch của họ. Theo quan niệm của người Maya, một dân tộc đã từng làm nên một nền văn minh rực rỡ ở Trung Mỹ thời cổ đại, thì ngày 21/12/2012 sẽ là ngày kết thúc chu trình lịch thứ 13, kỉ thứ 4 – đó là ngày tận thế để sau đó thế giới sẽ mở ra một chương mới. Sự kiện về ngày tận thế không phải chỉ có người Maya đưa ra mà Kinh thánh của Thiên chúa giáo cũng đề cập đến sự kiện này. Tuy nhiên chỉ có người Maya chỉ rõ thời gian cụ thể của sự kiện và hơn nữa người Maya rất giỏi về thiên văn và tính toán lịch nên việc họ đưa ra một thông tin về một sự kiện quan trọng như thế đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Họ đã tính được độ dài của một tháng âm lịch là 29,53025 ngày, chênh lệch 34 giây so với con số mà khoa học ngày nay tính được và chính xác hơn nhiều so với hệ lịch Gregory mà chúng đã đã dùng 500 năm nay. Ngoài việc kết thúc chu trình lịch thứ 13, tiên đoán của người Maya cho năm 2012 là: ban ngày sẽ kết thúc, bóng đêm bao trùm trái đất; loài người không phải bị tiêu diệt mà bước vào một thời kì phát triển mới, trở nên khôn ngoan hơn.

Lịch của người Mayan

Sách Khải huyền 16:13-16 trong Kinh thánh cũng đề cập đến Trận chiến cuối cùng trên đỉnh đồi hư cấu Armageddon nhìn xuống đồng bằng Megiddo ở Israel. Tại đó sẽ xảy ra trận đánh kết thúc mọi trận đánh giữa một bên là những người chấp nhận Chúa Jesus và một bên không chấp nhận Chúa. Ngày tận thế sẽ là một trận đại hồng thuỷ dự kiến sẽ đến sau trận chiến đó. Tuy nhiên Kinh thánh không đề cập một cách trực tiếp đến thời gian cụ thể của ngày tận thế. Để biết được thời điểm chính xác thì phải chăng Kinh thánh mã hoá ở đâu đó? Gần đây, dựa trên một nghiên cứu của ba nhà toán học Do thái về việc phân tích các kí tự trong sách Sáng thế đăng trên một tạp chí khoa học rất uy tín [4], kết luận của cuốn sách bán chạy nhất thế giới “Mật mã kinh thánh II” [5] của M. Drosnin là “Thiên chúa sẽ huỷ diệt trái đất vào năm 2012”. Cách làm của các nhà khoa học trên là viết lại Sách Sáng thế và một số sách trong Kinh Cựu ước bằng tiếng Hebrew (tiếng Do Thái) liền mạch, không khoảng cách, không dấu chấm câu giống như các văn bản kinh thánh lúc đầu được sao chép sau đó họ sử dụng máy tính để tìm các câu từ có ý nghĩa. Bản chất của việc này là một trò chơi đố chữ khổng lồ trong đó các kí tự chính là nội dung sách Sáng thế được viết bằng tiếng Hebrew được xếp thành một cột có chiều rộng là 33 kí tự [6]. Ngoài thông tin về ngày tận thế, Mật mã kinh thánh còn đưa ra nhiều thông tin khác như tên của 66 nhà khoa học tài năng xuất hiện trong đó. Đặc biệt là sự kiện thủ tướng Israel, Rabin bị ám sát vào năm 1995. Drosnin đã cảnh báo việc này tới Rabin nhưng không có kết quả. Sau đó Rabin bị một sinh viên của ĐH Bar-Ilan (một trường đại học mộ đạo mà tôi đã có dịp công tác ở đó) tên là Amir ám sát. Tên của Amir sau đó cũng được tìm thấy ở một mã hoá gần đó. Phân tích của Drosnin về ngày tận thế vào năm 2012 (không chỉ rõ là ngày nào, tháng nào) có thể là một sự va chạm với sao chổi hoặc một vụ nổ đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cách xếp chữ để giải mã Kinh thánh

Ám ảnh về năm 2012 có lẽ là nguyên nhân để một số người cố gắng tìm kiếm các dấu hiệu từ các nền văn minh khác. T. McKenna đã bỏ nhiều thời gian để nguyên cứu Kinh dịch của Trung Quốc. Ông cho rằng 64 quẻ của Văn Vương tương ứng với bộ lịch âm 384 ngày đã từng được người Trung Quốc sử dụng. Mỗi quẻ có 6 hào, lấy 64 quẻ nhân với số hào sẽ ra số 384. Số này chính là tích của 29,53 (số ngày trong một tháng âm lịch) nhân với 13 (số tháng trong một năm âm lịch). McKenna tin rằng Kinh dịch biểu diễn dòng chảy thời gian, từ đó ông thiết lập biểu đồ các sự kiện lịch sử lớn trong đó các thời đại có trình độ đổi mới cao được biểu diễn bằng các đỉnh, các thời đại có trình độ đổi mới thấp nằm ở các lõm. Ông thấy rằng các điểm lồi lõm xuất hiện lặp đi lặp lại tuy nhiên tần số của của chúng tăng dần chứ không phải cố định. Ông gọi là các sóng thời gian [7]. Dựa trên các phân tích đó, McKenna đưa ra giả thiết về ngày kết thúc của thế giới vào 22/12/2012, chậm hơn 1 ngày so với dự đoán của người Maya.

Kalki Bhagavan, một nhà hoạt động tôn giáo nổi tiếng người Ấn Độ, tự xưng là hiện thân thứ 10 và cuối cùng của thần Vishnu (Vishnu, Brahma và Shiva là ba vị thần tối cao của Đạo Hindu) cũng thông báo rằng năm 2012 là năm khổ đau và nhiễu nhương của loài người nhưng sau đó thời hoàng kim sẽ bắt đầu. Kalki Bhagavan gắn dự đoán với chuyển động của Sao Kim. Từ trái đất có thể thấy Sao Kim chuyển động cắt ngang mặt trời ít nhất mỗi thế kỉ 2 lần. Lần cuối cùng nó chuyển động như vậy vào ngày 8/6/2004 và lần tiếp tới sẽ là ngày 6/6/2012. Theo truyền thuyết trong kinh Vệ Đà được người theo Ấn Độ giáo và Phật giáo tôn thờ thì sao Kim trong tiếng Phạn gọi là Shukra, có nghĩa là “tinh dịch”. Được coi là một người đàn ông bị nữ hoá, học được cách chống lại Chúa trời. Shukra được gán với tên của ngày thứ sáu trong tuần. Trong thần học Hindu, sao Kim quản số 6, do đó, việc sao Kim cắt ngang Mặt trời vào ngày 6/6/12 (chú ý: 12 = 6 + 6) sẽ gây biến cố lớn cho nhân loại.

Ở Việt Nam, sự kiện ngày tận thế 2012 cũng được nghiên cứu tương tự như trên. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là nhà tiên tri bậc nhất đã tiên đoán về sự kiện năm 2012. Trong đoạn sấm Trạng Trình có câu: “Long Vĩ Xà đầu khởi chiến tranh, Can qua xứ xứ khởi đao binh”. Sự kiện xảy đúng với năm mà sấm kí mô tả: Long vĩ là đuôi rồng, tức cuối can là Nhâm Thìn (năm 2012), Xà đầu là đầu năm Quý Tị, tức là năm 2013 xảy ra chiến tranh dẫn đến loạn lạc, can qua. Còn nhớ cuối năm Canh Thìn (năm 2000), Xà đầu là đầu năm Tân Tị, tức là năm 2001 xảy ra cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 đẫm máu. Đây là lần đầu tiên lãnh thổ Hoa Kì bị người ngoài tấn công từ khi lập nước.

2. Ngày tận thế và các căn cứ khoa học
Các hiểm họa đe dọa đến sự tồn vong của con người rất nhiều. Chúng có thể đến từ nơi xa xôi nào đó trong vũ trụ rộng lớn, từ mặt trời, từ hoạt động liên tục của vật chất trong lòng trái đất, thậm chí nó có thể đến từ chính bản thân con người qua các hoạt động chiến tranh hoặc sự ngu dốt.

Các hiểm họa, khi đã xảy ra, sẽ dẫn đến sự tiêu diệt gần như tức thời và hàng loạt của các loài sinh vật. Vậy khoa học đã có bằng chứng nào về điều này chưa? Năm 2001, hai nhà vật lí ở ĐH Bekerley là R. A. Rohde và R. A. Muller đã công bố trên tạp chí Nature những bằng chứng tin cậy về sự tuyệt chủng hàng loạt đã xảy ra thường xuyên và có quy luật với chu kì 62 - 65 triệu năm một lần [9]. Lần gần đây nhất là vụ tuyệt chủng của loài khủng long cách đây 65 triệu năm. Chúng ta đang hoặc sắp đến gần thời hạn tới cho lần tuyệt chủng tiếp theo trên trái đất. Sự tuyệt chủng này có liên hệ đến ngày tận thế chăng?

Một ví dụ về hiểm họa đến từ trái đất, với quy mô lớn hơn có thể gây tuyệt chủng hàng loại là đợt sóng thần đã cướp đi 230.000 ngàn sinh mạng vào năm 2004 do động đất ở Ấn Độ Dương. Đó là một trong những hiểm họa thiên nhiên đến từ trái đất gây thiệt hại lớn nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên nó sẽ không là gì nếu so sánh với siêu núi lửa Yellowstone, nằm phần lớn ở Bang Wyoming, Hoa Kì nếu nó hoạt động. Đây là núi lửa nguy hiểm nhất thế giới, nếu nó phát nổ thì toàn bộ khí quyển trên trái đất sẽ bị bao phủ bởi axit sulfuric, khói, bụi và đưa hành tinh của chúng ra vào mùa đông lạnh giá làm cho nền văn minh của con người quay trở lại điểm xuất phát. Các nghiên cứu cho thấy núi lửa này đã phun trào ít nhất 100 lần, trong đó 3 lần dữ dội có thể gây thảm hoạ cho một nửa trái đất chu kì phun trào từ 600-700 ngàn năm [8]. Lần phun trào gần đây nhất vào 640 ngàn năm trước. Theo chu kì đó thì chúng ta đang đợi chờ một trận bùng nổ tiếp theo. Một nghiên cứu gần đây của Nasa phát hiện một điểm nóng - ổ dung nham có kích thước to bằng thành phố Tokyo nằm dưới núi lửa này đang chực bùng nổ. Các tín hiệu cho thấy nó sắp bùng nổ là: ổ dung nham tăng khoảng 0,75 m kể từ 1992, đây là một con số cực lớn trong thước đo thời gian địa chất chỉ khoảng mm/thế kỉ; nó nằm cách mặt đất 20 km, chỉ bằng 1/10 so với độ sâu của các ổ dung nham khác, nếu thế thì một nhóm khủng bố đặt quả bom hạt nhân ở núi lửa này có thể kích hoạt sự phun trào; sự hoạt động của ổ dung nham mạnh đến mức làm chao đảo cả hồ Yellowstone ở trên nó về phía nam khiến cho nước trong hồ trào ra ngoài làm ngập cây cối ở vùng xung quanh.

Siêu núi lửa Yellowstone có thể gây ra sự hủy diệt trái đất?

Từ nhỏ chúng ta được dạy các kiến thức cơ bản về trái đất hình cầu và có lực hấp dẫn để con người có thể đi lại trên nó, bầu khí quyển có ô xy để con người hô hấp, tầng khí quyển có ô zôn để tránh tia cực tím,… tuy nhiên một kiến thức rất quan trọng đó là trái đất có từ quyển, một cái khiên che chở cho các loài sinh vật bên dưới khỏi sự bắn phá không ngừng của các tia vũ trụ thì hầu như không được dạy. Dù bạn có biết hay không thì cái khiên từ trường sinh ra bởi lõi kim loại từ tính nóng chảy trong nhân trái đất vẫn kiên trì gạt các hạt proton, và điện tử đến từ mặt trời thành những vành đai vô hại để bảo vệ chúng ta. Vấn đề ở chỗ là đường sức của từ trường trái đất hiện đang theo hướng bắc-nam sẽ đổi chiều ngược lại tức là theo hướng nam-bắc. Trong quá khứ, từ trường trái đất đã nhiều lần bị đảo. Nghiên cứu về mẫu lõi đá và trầm tích chỉ ra rằng lần đảo từ cuối cùng xảy ra cách đây 780 ngàn năm. Thời gian đảo cực từ kéo dài hàng trăm năm. Người ta phát hiện sự suy yếu của từ trường trái đất thời gian gần đây có thể là dấu hiệu của sự đảo từ trường. Trong quá trình đảo chiều bắc-nam thành nam-bắc thì sẽ có thời điểm trái đất có vô số cực từ như vậy la bàn sẽ chỉ mọi hướng, các loài sinh vật di chuyển dựa vào từ trường trái đất sẽ mất phương hướng không thể di chuyển đến nơi có thức ăn, cường độ các cơn bão, lốc xoáy tăng lên và đặc biệt là các sinh vật ở trái đất có thể bị ảnh hưởng bởi các tia vũ trụ. Đây là một hiểm họa gây tuyệt chủng hàng loạt.

Đảo chiều từ trường trái đất sẽ gây mất phương hướng cho sinh vật?

Mặt trời, ngôi sao duy nhất trong Thái dương hệ của chúng ta, là nguồn cung cấp năng lượng cho hầu hết các hoạt động của sinh vật trên trái đất đến một lúc nào đó lại là hiểm họa cho sự tồn tại của con người. Mặt trời là một lò phản ứng hạt nhân khổng lồ, ngoài việc phóng ra vô số các hạt, tia năng lượng bắn phá trái đất, mặt trời còn có một từ trường rất mạnh tạo ra từ sự chuyển động của khối plasma. Các biến động về từ trường mặt trời thể hiện bởi các cơn bão từ. Từ bên ngoài ta có thể quan sát bão từ bằng cách nhận diện các vết đen trên bề mặt của mặt trời. Vết đen là những vùng có kích thước lớn hơn trái đất và có nhiệt độ khoảng 1.500 C, thấp hơn nhiều nhiệt độ 5.800 C ở vùng xung quanh nên chúng tối hơn. Số lượng các vết đen thể hiện mức độ biến động của từ trường mặt trời với chu kì 11,2 năm. Tức là phải mất 5-6 năm để đi từ điểm cực đại này đến điểm cực tiểu khác. Số lượng vết đen đạt cực tiểu hoặc cực đại đều liên quan đến hoạt động mạnh của mặt trời, và vì thế ảnh hưởng đến trái đất. Năm 2005 là năm hoạt động mạnh của mặt trời với các vụ phun trào hạt năng lượng cao kỉ lục cũng đồng thời cũng là năm xảy ra nhiều thiên tai khủng khiếp, ví dụ trận bão Katrina và ngay sau đó là những trận bão lớn khác như Rita, Stan, Wilma làm cho mùa mưa bão năm 2005 là mùa mưa bão vô địch trong các mùa mưa bão. Mưa bão ở một số nơi này nhưng hạn hán và nóng bỏng ở một số nơi khác, năm 2005 cũng là năm nóng và khô hạn kỉ lục trong lịch sử trái đất. Đến năm 2012, tức là năm theo chu kì mặt trời lại hoạt động dữ dội hơn đợt trước từ 30-50%, [10] chúng ta chuẩn bị đón chờ những diễn biến thiên nhiên khắc nghiệt sẽ xảy ra với trái đất. Hơn nữa từ trường của mặt trời cũng bị đảo chiều giống trái đất nhưng với tần suất cao hơn nhiều với chu kì 20 năm. Dự kiến lần đảo chiều tiếp theo sẽ xảy ra vào năm 2012. Việc mặt trời phóng tia năng lượng cao, kết hợp với từ trường trái đất bị yếu đi do bắt đầu quá trình đảo từ có thể gây ra ngày tận thế chăng?

Các hiểm hoạ với trái đất không chỉ giới hạn trong vùng không gian của hệ mặt trời mà có thể mở rộng trong vùng không gian của Ngân hà. Hệ mặt trời nằm ở vùng rìa của dài Ngân hà. Và cũng như các phần khác của dải Ngân hà, hệ mặt trời chuyển động cùng thiên hà của chúng ta. Trong khi chuyển động trong vùng không gian vô tận đó, thỉnh thoảng hệ mặt trời phải đối mặt với những nhiễu loạn của tia vũ trụ còn gọi là các đám năng lượng liên sao, tàn dư của một vụ nổ của ngôi sao nào đó trước đây. Các nghiên cứu của Alexey Dmitriev, một nhà vật lí thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga, khi phân tích dữ liệu của phi thuyền Voyager 1 (hiện đang ở rìa của hệ mặt trời) cho thấy hệ mặt trời đang đi vào vùng nhiễu loạn thì, giống như tàu con thoi lao vào khí quyển, toàn bộ hệ mặt trời, trong đó có cả trái đất, sẽ nóng lên và gây những biến đổi bất thường trong lòng mặt trời. Theo nhà khoa học này các hoạt động bất thường gần đây của mặt trời có liên quan đến việc hệ mặt trời đang đi vào vùng có các đám năng lượng liên sao. Mà bất kì cái gì gây nhiễu loạn đến mặt trời sẽ làm nhiễu loạn đến chúng ta. Muller tác giả của bài báo nói về tuyệt chủng hàng loạt của các loài [9] đưa ra giả thuyết gần giống Dmitriev. Ông cho rằng hệ mặt trời đi qua một khu vực trong dải ngân hà có mật độ hấp dẫn cao khác thường (chứ không phải đám mây năng lượng liên sao) với chu kì 62-65 triệu năm. Mặt trời sẽ che lấp tầm nhìn từ trái đất đến tâm của dải Ngân hà (giả thiết là một hố đen khổng lồ) sự chuyển động của các tiểu hành tinh sẽ rối loạn và có thể va chạm với trái đất dẫn đến ngày tận thế.

3. Liệu ngày tận thế sẽ xảy ra?
Như trên đã trình bày, chúng ta có thể thấy các căn cứ khoa học cho biết có khả năng sự diệt chủng hàng loạt có thể xảy ra nhưng xác suất rất nhỏ. Chu kì diệt chủng từ 62-65 triệu năm cũng có thể xê dịch hàng triệu năm. Thời gian đó đủ lớn để loài người có thể tiến hoá tìm nơi cư trú đâu đó trong vũ trụ. Mối quan ngại về ngày tận thế từ hoạt động của con người thực ra lại rất có thể đang xảy ra với xác suất cao hơn nhiều. Ví dụ về thảm hoạ chiến tranh hạt nhân, một số nhóm khủng bố sử dụng vũ khí hạt nhân, đặc biệt là hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nếu nhân loại không ra tay ngay lập tức thì lượng khí CO2 sẽ vượt ngưỡng 350 ppm và hiện tượng nóng lên toàn cầu hầu như không thể đảo ngược được, nói cách khác, ngày tận thế chắc chắn sẽ xảy ra với chúng ra. Bất kì cá nhân nào cũng có thể đóng góp công sức ngăn chặn điều đó. Với một hành động nhỏ là tắt một bóng đèn không cần thiết, tiết kiệm chút nước khi sử dụng, thực hiện sinh đẻ hạn chế sự gia tăng dân số,… đều có thể ngăn chặn hoặc ít nhất kéo dài thời điểm đến ngày tận thế.

Hành động nhỏ của các bạn có thể giúp tránh được ngày tận thế do chính chúng ta gây ra.

Nguyễn Hoàng Hải

Tham khảo
1. L. E. Joseph, Ngày tận thế 2012, NXB Thời đại 2010
2. http://2012apocalypse.net/
3. http://www.2012.vn
4. Doron Witztum, Eliyahu Rips, Yoav Rosenberg, Equidistant letter sequences in the Book of Genesis, Statistical Science 9 (1994) 429–438. doi:10.1214/ss/1177010393
5. Drosnin, Michael (2001-09-11). Bible Code II: The Countdown - Google Books. Books.google.com. ISBN 9780142003503.
6. http://en.wikipedia.org/wiki/Bible_code#Criticism_of_Michael_Drosnin
7. The Invisible Landscape: Mind, Hallucinogens, and the I Ching (with Dennis McKenna) (Seabury; 1st Ed) ISBN 0-8164-9249-2; http://en.wikipedia.org/wiki/Novelty_Theory
8. http://pubs.usgs.gov/pp/pp729g/
9. Robert A. Rohde & Richard A. Muller, Nature 434 (2005) 208.
10. Dikpati, M., G. de Toma, and P. A. Gilman (2006), Predicting the strength of solar cycle 24 using a flux‐transport dynamo‐based tool, Geophys. Res. Lett., 33, L05102, doi:10.1029/2005GL025221.

2010/11/17

Tìm hiểu Israel qua ảnh

Mảnh đất nhỏ bé vùng cận đông là một nơi khô cằn bán hoang mạc nhưng lại rất giàu các sự kiện lịch sử trong suốt hơn 2000 năm qua và cho đến tận bây giờ. Sở dĩ nó luôn là tâm điểm của thế giới là bởi vì người xưa cho rằng trái đất như một cái cành ba lá. Một lá là châu Âu, một lá là châu Á, lá còn lại là châu Phi. Khoảng đất mà người Do Thái và Palestine ở ngày nay (gọi là Israel) là trung tâm của thế giới vì muốn đi từ châu này sang châu khác người ta phải đi qua đây. Tức là, Israel là trung tâm của thế giới. Trung tâm của Israel là Jerusalem. Trung tâm của Jerusalem là đồi Zion (Hình 1).

Hình 1. Đồi Zion nhìn từ đỉnh đồi Scopus. Nổi bật rất rõ là Vòm thờ đá mạ vàng đang tọa lạc trên nền của Đền thờ Do thái.

Chính vì thế mà mảnh đất này chứng kiến biết bao biến đổi quan trọng trong suốt hơn 2000 năm qua. Đây là nơi khởi nguồn phát sinh của Do thái giáo và Thiên chúa giáo. Đây cũng là mảnh đất thiêng của Hồi Giáo.

Do Thái là những người đầu tiên sinh sống ở vùng đất này. Lịch sử của họ được tôn giáo hóa trong kinh Torah - kinh thánh của Do Thái giáo - cơ sở để xây dựng lên Thiên chúa giáo và Hồi giáo. David là vị vua đầu tiên của dân Do thái, con trai ông là Salomon đã cho xây Đền thờ đầu tiên tại vị trí được coi là trung tâm của thế giới - trung tâm của Jerusalem - đồi Zion vào năm 950 TCN. Tuy nhiên ngôi đền này sau đó bị tàn phá bởi những người Babilon đến từ phương Bắc vào năm 586 TCN. Cho đến tận thời kì La Mã đô hộ vùng đất này. Heriod, tổng tư lệnh quân La Mã ở Israel, có vợ là người Do Thái đã cho xây Đền thờ thứ hai trên nền của đề thờ thứ nhất vào năm 70 SCN. Hình 2 mô hình thành phố Jerusalem và Đền thờ thứ hai của người Do Thái. Thế kỉ thứ sáu, những người Hồi giáo đến xâm chiếm vùng đất này và phá hủy Đền thờ rồi cho xây một nhà thờ hồi giáo và Vòm thờ đá mạ vàng (Hình 1). Di tích còn lại cho đến ngày nay là bức tường phía tây của ngôi đền, còn gọi là bức tường than khóc (Hình 3).

Hình 2. Mô hình thành phố Jerusalem và Đền thờ thứ hai của người Do Thái.

Hình 3. Bức tường phía tây còn gọi là Bức tường than khoc hiện nay, đằng sau bức tường này là khu vực Đền thờ ngày xưa của người Do Thái, nay đã mọc lên Vòm thờ đá mạ vàng.

Người Do thái vẫn trông đợi Đấng cứu thế đến để xây cho họ Đền thời thứ ba. Tất nhiên Đền thờ này phải được xây ở vị trí của hai đến thờ trước đó, mà nếu thế thì phải phá bỏ đền thờ Hồi giáo và Vòm thờ đá đi - một chuyện không thể chấp nhận được với thế giới Hồi giáo vì đây là địa điểm được Đấng tiên tri Mohamed đã bay đến đây là lựa chọn để xây nhà thờ. Người Do thái cho rằng Christ là một nhà tiên tri chứ không phải là một đấng cứu thế. Christ đã vi phạm tất cả các quy tắc của Do thái giáo. Đó là lý do tại sao người Do thái rất khó hòa bình với người Hồi giáo và Thiên chúa giáo.

Ngày nghỉ của Do thái là thứ sáu và thứ bảy. Thời điểm quan trọng nhất là Shabath bắt đầu từ lúc mặt trời lặn của ngày thứ sáu đến lúc mặt trời lặn của ngày thứ bảy. Vào thời gian này người Do thái không được làm việc mà phải nghỉ ngơi và ca ngợi Chúa tối cao (Hình 4). Ai làm việc là vi phạm lời dạy của Chúa. Một trong những điều cấm kị trong lễ Shabath đó là không được bật lửa. Trong thế giới hiện đại, bật công tắc điện, khởi động ô tô, bấm chuông điện thoại, bấm thang máy,... đều vi phạm các điều luật của Chúa. Chính vì thế vào ngày Shabath mọi người không nấu cơm, thang máy đến ngày này thì tự động chạy tất cả các tầng và dừng lại ở mỗi tầng vài giây. Nếu nóng quá thì nhờ người ngoại đạo như đạo Hồi hoặc vô đạo như người nước ngoài để bật hộ điều hòa. Một số người Do Thái mộ đạo đến bức tường than khóc để khóc lóc cầu Chúa gửi đấng cứu thế đến xây cho họ Đền thờ thứ ba. Ảnh 5 là một số người Do Thái mộ đạo vừa "khóc lóc" xong và đang đi trong thành cổ Jerusalem. Những người này không mến khách, nếu du khách chụp ảnh lộ quá thì ngay lập tức bị nhắc nhở. Người Do Thái nói chung là không niềm nở với người nước ngoài. Họ thường không tỏ thái độ gì với khách du lịch.

Hình 4. Gia đình Do thái nghỉ ngơi trong ngày lễ Shabath.

Hình 5. Một số người Do thái mộ đạo ở Bức tường than khóc.

Jerusalem là thành phố quốc tế, những người ở đó theo ba đạo chính: Do Thái giáo, Hồi Giáo và Thiên Chúa giáo. Khu của người Do Thái và Thiện chúa thì tương đối an toàn, thịnh vượng, và lịch sự (Hình 6, 7). Các cửa hàng thưa thớt và gọn gàng. Ngược lại, khu của người Hồi giáo thì đông đúc, cửa hàng tràn ra cả hè phố, lấn cả phần đường cho người đi bộ (Hình 8). Nạn chèo kéo mời chào khách rất phổ biến. Hàng hóa thì đủ thứ nhưng chủ yếu vẫn là đồ lưu niệm cho khách du lịch. Ở đây, đạo Hồi lấn át hai đạo còn lại, đạo Thiên chúa là yếu thế nhất ở chính nơi Chúa Jesus sinh ra và bị đóng đinh lên cây thánh giá.

Hình 6. Khu của người Do thái ở Jerusalem khá gòn gàng và ngăn nắp.

Hình 7. Khu của người Thiên chúa giáo.

Hình 8. Khu của người Hồi giáo. Chật chội, đông đúc, toàn trẻ con.

Hình 7 là Khu Thiên chúa giáo. Thông tin chỉ dẫn được ghi bằng tiếng Nga. Có chuyện vui như sau: Hai người Do thái ở nước ngoài gặp nhau, một người hỏi rằng, anh có biết tiếng thứ hai ở Israel là tiếng gì không? Người kia trả lời, tiếng Hebrew. Ngụ ý rằng tiếng Nga mới là tiếng được nói nhiều nhất sau đó mới đến tiếng nói của các tổ phụ Do Thái trong Cựu ước Hebrew.

Người Hồi giáo ở đâu cũng sinh sôi nảy nở rất nhanh. Theo thống kê, người Hồi giáo ở Israel có đến một nửa là dưới 15 tuổi (hình 9). Thủ lĩnh Hồi giáo Harmas phát biểu: dạ con của người phụ nữ là vũ khí sinh học. Tức là sẽ đẻ ra các chiến binh tử vì đạo. Nhóm Harmas khuyến khích trẻ em vị thành niên tham gia chiến tranh chống lại người Do Thái. Vũ khí của họ chủ yếu là gạch, đá do đó được gọi là cuộc chiến tranh ném đá.

Hình 9. Trẻ em được coi là các chiến binh.

Hình 10. Nhà thờ nơi Chúa Jesus ra đời. Một chiếc cổng bé xíu và có rất ít khác du lịch đến thăm kể từ khi nhà thờ này được trao về Palestine.

Hình 11. Vị trí Chúa Jesus ra đời với ngôi sao 14 cánh.

Ai xem phim "Khổ hình của Chúa" sẽ thấy con đường Chúa Jesus bị mang đi đóng đinh. Jesus là người Do Thái, ông sinh ra trong một cái máng cỏ. Nơi ông sinh là Bethlehem, hiện thuộc Palestine nhưng vẫn do người Do Thái canh giữ (Hình 10). Hình 11 là nơi Chúa sinh ra nằm trong một nhà thờ, có một ngôi sao 14 cánh tượng trưng cho con số thiêng 14. Từ tổ phụ Abraham đến vua David là 14 đời, từ vua David đến thời kì lưu đày ở Babilon là 14 đời, từ thời kì lưu đày ở Babilon đến chúa Jesus là 14 đời.

Hình 12. Nơi Chúa Jesus được nuôi nấng khi còn nhỏ.

Hình 13. Sự rực rỡ của Vatican đối lập với nơi mà Thiên chúa ra đời.

Hình 14. Một góc phố Palestine.

Những thánh tích của Jesus còn lại đến ngày nay thường làm người xem thất vọng vì nó không được uy nghi và bề thế như Thiên Chúa giáo (Hình 12). Nếu so sánh với Vatican thì thánh tích ở Bethlehem thật nhỏ nhoi và rất ít sự chăm sóc (Hình 13). Thánh tích nằm lọt thỏm xung quanh thế giới Hồi giáo. Ngày thường có rất ít người đến thăm vì từ khi thánh tích trao cho Palestine cai quản, dịch vụ du lịch không được phát triển lắm. Tôi đã mua một tour của một công ti Israel đến đây, chỉ được thăm Nhà thờ khoảng 30 phút, 2 tiếng còn lại thì được một công ti du lịch Palestine "chăm sóc" bằng cách đưa đến một cửa hàng lưu niệm bán đồ liên quan đến Thiên chúa giáo (Hình 14). Người ta kể rằng, ngày càng ít người Thiên chúa ở đây. Nếu có thì các thiếu nữ Thiên chúa giáo sẽ lấy chống Hồi giáo. Mỗi lần như vậy thì chuông nhà thờ lại nguyện một lần để tưởng nhớ Thiên chúa giáo đã mất một con chiên. Thánh tích của gia đình chúa Jesus, nơi Đức chúa được nuôi dưỡng. Một nơi đã từng nuôi dưỡng con người làm thay đổi thế giới mà nay không được chăm sóc cẩn thận, hoặc có nhưng hoàn toàn không xứng đáng với vị thế của Thiên chúa giáo trên thế giới.

Hình 15. Bảo tàng diệt chủng Do thái ở Jerusalem.

Lịch sử nhà nước Israel bắt đầu từ năm 1948. Sau thế chiến 2 và vụ diệt chủng người Do thái làm cho sáu triệu người của dân tộc này bị mất mạng (Hình 15). Liên hợp quốc (quân đồng minh) chuộc lại lỗi lầm của mình vì đã không hành động kịp thời để ngăn chặn vụ diệt chủng bằng cách phân chia vùng đất mà nay gọi là Israel cho nhà nước Do Thái. Bản đồ năm 1948 cho thấy nhà nước Do thái chỉ được khoảng 40%, người Palestine được 60% tỉ lệ với số dân thời đó. Lúc đó người Do thái trên thế giới khắp nơi ăn mừng kết quả không ngờ. Điều ước nguyện từ hàng ngàn năm nay đã trở thành hiện thực. Từ khi mất nước cho đến ngày nay, người Do thái ngày nào cũng cầu nguyện "sang năm ở Jerusalem" ngay cả bây giờ, giữa Jerusalem người ta vẫn cầu như thế. Tuy nhiên, người Palestine lúc đó không đồng ý với Liên hợp quốc. Họ coi tất cả vùng đất đấy là của họ. Với sự trợ giúp của các nước láng giềng như Ai cập, Lebanon, Jordan và thế giới Hồi giáo, người Palestine và Do thái có "cuộc chiến tranh sáu ngày" vào năm 1967. Kết quả là người Do thái chiếm hết toàn bộ đất Palestine gồm bờ tây sông Jordan và dải Gaza. Thắng thế họ chiếm toàn bộ bán đảo Sinai của Ai cập và Ai cập phải hứa không hỗ trợ Palestine thì người Do thái mới trả lại bán đảo này. Đến năm 1990 thì phong trào PLO mới lập được nhà nước Palestine trở lại và Do thái hứa sẽ trao trả toàn bộ vùng bờ tây và dải Gaza cho Palestine. Tiến trình chưa đến đầu đến đũa thì Arafat chết, Harmas lên cầm quyền và tiếp tục khủng bố Do thái. Tiến trình hòa bình hoàn toàn bế tắc. Hình 14 là khu vực Palestine. Cùng một vùng đất nhưng thuộc hai nhà nước khác nhau. Kết quả khác hắn nhau. Vùng đất thuộc Palestine ngèo nàn, vùng đất thuộc Do thái thịnh vượng (Hình 16).

Hình 16. Tel-aviv, thành phố hiện đại của Israel.

Người Palestine yếu thế về mọi mặt. Kinh tế, chính trị, quốc phòng. Hàng ngày, hành ngàn người Palestine phải sang Israel thông qua một số cửa khẩu để làm ăn (Hình 17). Những công việc họ làm đều là những việc nặng nhọc như xây dựng, giúp việc,... Kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào người Do thái. Không tiền, ít vũ khí, nhưng Harmas vẫn kêu gọi thánh chiến, dùng ngay mạng sống của họ làm vũ khí. Kêu gọi thiếu niên tử vì đạo sẽ được lên thiên đường, sẽ được sung sướng. Kêu gọi phụ nữ đẻ thật nhiều để dân số vượt người Do thái. Những quan niệm thông thường ở các nơi khác trên thế giới như lòng nhân từ, khoan dung, bùng nổ dân số, vô học,... thật lạ lẫm ở nơi này.

Hình 17. Hàng ngày, hàng ngàn người Palestine phải đi qua những chiếc cổng như thế này để sang vùng đất của Israel để làm các công việc nặng nhọc.

Hình 18. Các ngôi nhà được làm bằng đá ở Jerusalem.

Một trong những quy định của thành phố là các nhà ở Jerusalem phải được xây bằng đá lấy từ Jerusalem (Hình 18). Xây dựng ở đây rất nặng nhọc vì toàn bộ thành phố nằm trên các ngọn đồi bằng đá cứng. Những việc nặng thường được giao cho người Palestine.
Tôi đã có thời gian 2 tháng công tác ở đây. Một xã hội cực kì khó hòa nhập. Cuối tuần không thể tìm thấy một cái gì để có thể giải trí được. Không bus, không ô tô, không hàng quán. TV chỉ chiếu mấy kênh nói xì xồ toàn tiếng Hebrew. Tối ra ngoài đường vắng tanh vắng ngắt, các gia đình Do thái tụ tập nhau hát thánh ca. Những người lang thang ngoài đường vào ngày cuối tuần toàn dân ngoại quốc hoặc ngoại đạo. Người Do thái bị Liên hợp quốc ra hết bản án này đến bản án khác vì thực chất đây là một nước phân biệt tôn giáo. Chính vì thế tôi mới dành nhiều thời gian tìm hiểu về mảnh đất này. Thứ nữa, tôi theo mấy tour của công ti Do thái, gặp phải tay guide hướng dẫn rất tốt nên cũng hiều nhiều điều. Chúng ta cứ yên tâm đi thăm quan, những địa danh thì không bao giờ bị khủng bố vì dân ở đây sống chủ yếu dựa vào du lịch. Nếu có quả bom thì cả Do thái và Palestine đều treo niêu hết. Nguy hiểm nhất là vùng dải Gaza và vùng định cư mới của Do thái thôi. Còn ở những nơi khác như Tel-aviv thì không vấn đề gì. Tuy nhiên không phải kể như thế là an toàn. Vào chỗ đông dân cư đều bị kiểm tra như vào sân bay. Ngoài đường thì thấy rất nhiều người mặc áo lính, cả trai lẫn gái. Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm là bắt buộc với tất cả mọi người. Chắc các bác nghe đến các chiến binh Do thái, rất xinh đẹp và hấp dẫn (Hình 19). Hình như trước đây có một số trên FHM chụp toàn các chiến binh Do thái thì phải. Nhưng ngoài đường họ không thích bị chụp ảnh đâu, ảnh dưới đây là tôi chụp trộm trong xe bus ở Jerusalem. Điển hình của xe bus Do thái: ông già mộ đạo áo đen và nữ chiến binh khoác súng (Hình 20).

Hình 19. Nữ chiến binh Israel.


Hình 20. Điển hình của xe bus Do thái: ông già mộ đạo áo đen và nữ chiến binh khoác súng.

Tôi quay lại câu chuyện của Chúa Jesus. Chúa Jesus sau khi bị Judas bán cho người Do thái, thì bị các tư tế Do thái yêu cầu binh lính La Mã đóng đinh trên thập tự giá sau khi đã tra tấn rất dã man. Ai đã xem phim "Khổ hình của Chúa" sẽ thấy rất rõ. Tổng quản La Mã tuy cho chút lưu luyến không muốn làm hại Jesus nhưng các tư tế Do thái một mực yêu cầu, họ thà chọn phóng thích một tên vô lại trộm cướp còn hơn phóng thích Jesus. Và thế là Jesus phải tự mình vác thập tự giá đến nơi đóng đinh. Trên đường đi, Jesus đã dừng lại ở 12 nơi và đến nay vẫn còn vết tích ở Jerusalem. Tôi chỉ nhớ và chụp được có mấy nơi thôi.

Hình 21. Chúa mệt nên vịn tay vào bức tường này.

Hình 22. Còn đây là cô thiếu nữ Veronica mang nước mới Jesus uống khi ngài trên đường ra nơi bị đóng đinh.

Khi chụp các thánh tích này tôi đã loại bỏ những quang cảnh lộn xộn xung quanh của các cửa hàng Hồi giáo. Thánh tích cuối cùng là Nhà thờ mộ thánh mới nằm ở trong khu Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, ngay cả ở đây, lối vào khu Nhà thờ mộ thánh (Holy Sepulchre, hình 23) cũng cực kì lộn xộn bởi hàng quán xung quanh. Lối vào là một cái cổng bé nhỏ. Biển chỉ dẫn Nhà thờ mộ thánh bị đủ các loại biển chỉ dẫn khác chèn ép. Thật không xứng với nơi thánh thiêng nhất của Thiên chúa giáo một chút nào.

Hình 23. Lối vào Nhà thờ Mộ thánh.

Hình 24. Nhà thờ Mộ thánh. Đi qua cái cổng bé nhỏ thì không gian được trải rộng hơn một chút nhờ có một cái sân trước khi vào nhà thờ.

Hình 25. Thánh tích thứ 13, thánh tích cuối cùng chính là nơi chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thánh giá.

Hình 26. Sau khi bị đóng đinh trên thánh giá, thi thể của chúa Jesus được hạ xuống chiếc bàn đá này. Hàng ngày, môn đệ của Chúa đến đây chạm vào chiếc bàn đá để cầu xin Chúa ban phước lành.

Sau khi Thiên chúa trút linh hồn, một đệ tử của ngài là ông Joseph đã mai táng Chúa ở trong mộ của gia đình ông ta vì Jesus ở Bethlehem chứ không phải ở Jerusalem. Ngày đó, mỗi gia đình có một hầm mộ, những người trong gia đình chết sẽ được đưa vào hầm mộ. Trong hầm mộ có nhiều ngăn. Mỗi ngăn có thể chứa được một người chết. Hôm sau Đức bà Maria đến thăm hầm mộ thì không còn thấy thi thể của Jesus đâu nữa vì ngài đã sống lại và bay về trời.

Hình 27. Hầm mộ của Chúa Jesus, nơi ngài bay về trời. Hàng ngày, các khách du lịch và con chiên của Chúa vẫn nối đuôi nhau được vào thăm hầm mộ.

Bây giờ ta chuyển sang khu Hồi giáo. Khi Châu Âu còn chìm đắm trong thời kì Trung cổ thì ở vùng Cận Đông và Tiểu Á Hồi giáo phát triển rất mạnh. Hệ quả của nó là văn hóa và tôn giáo được phát triển ra những vùng xung quanh. Ngay cả ở Châu Âu, Tây Ban Nha là nước bị ảnh hưởng của Hồi giáo tương đối nhiều. Theo truyền thuyết Hồi giáo, tiên tri Muhammad đã bay trong một đêm từ thánh địa Mecca ở Các tiểu vương quốc Ả rập đến Jerusalem. Tại đây, ngài đã gặp Moses và được Moses tư vấn. Hòn đá mà hai ông gặp nhau nay được bảo vệ bởi Vòm thờ đá mạ vàng. Một trong những công trình đẹp nhất ở Jerusalem. Đối với Do thái giáo, hòn đá đó chính là nơi tổ phụ Abraham của họ đáp ứng yêu cầu của Thiên chúa là hi sinh con trai của Abraham là Isaac. Đối với cả hai tôn giáo thì vị trí này là một trong những vị trí thánh thiêng của những thánh thiêng. Đặc biệt với Do thái giáo, chỉ có vị tư tế tối cao nhất mới được đứng vào vị trí này. Hòn đá thì ở đó nhưng vị trí trước kia nó từng ở đâu thì người Do thái lại không biết. Chính vì thế mà không một người Do thái mộ đạo nào được đặt chân đến vùng đất đằng sau bức tường than khóc, tức là không được đặt chân vào bên trong vùng đất trước đây đã từng là Đền thờ thứ nhất và thứ hai của họ vì sợ chẳng may đứng vào vị trí thánh thiêng mà không được phép.

Hình 28. Vòm thờ đá mạng vàng, nơi Muhammad gặp Moses.

Người ta nói rằng, ở Jerusalem chỉ cần nhìn mũ là biết người đó thuộc tôn giáo nào. Người Do thái áo dài đen, quần đen, giầy đen, mũ phớt đen, áo sơ mi bên trong thì trắng (Hình 29). Đặc biệt là người Do thái có cái tóc mai rất dài. Với họ thì Chúa ở trên trời, con người trần tục không được để cái đầu của mình hướng thẳng lên trời mà lúc nào cũng phải đội mũ. Ở nhà nếu không đội mũ thì cũng phải đội một cái mũ nhỏ kẹp vào tóc ở trên đầu. Bất cứ người nào thuộc dân Do thái ở bất kì nơi nào trên thế giới đều có thể trở thành công dân Israel. Chuyện định nghĩa thế nào là người Do thái thì rất đơn giản, cứ 1/4 dòng máu là người Do thái là được, tức là chỉ cần tối thiểu ông hoặc bà là người Do thái là được coi là người Do thái. Định nghĩa này dựa trên định nghĩa mà Đức Quốc xã đã đưa ra thời chiến tranh thế giới 2 để tiêu diệt người Do thái. Chính vì thế ở Israel có đủ loại màu da giống như ở Mỹ. Tuy nhiên người Do thái da trắng vẫn chiếm đa số, đặc biệt là Do thái ở Nga chiếm nhiều nhất. Thiếu nữ Do thái gốc Nga hoặc Đông Âu thường xinh đẹp nên có rất nhiều trường hợp đàn ông Do thái bỏ vợ để lấy các cô gái Do thái Nga. Hiện tượng này rất phổ biến vì thu nhập của người Israel cao hơn thu nhâph của người Nga nhiều.

Hình 29. Trang phục của đàn ông Do Thái.

Người Do thái đội mũ ai cũng biết, người ngoại đạo mà vào khu vực thánh thiêng của Do thái cũng phải độ mũ. Ngược lại, Người ngoại đạo mà vào khu thánh thiêng của Thiên chúa giáo hoặc Hồi giao lại phải bỏ mũ ra vì theo họ như thế là tỏ lòng kính trọng với Chúa. Nam giới Hồi giáo thì có vẻ thoải mái, thỉnh thoảng lắm mới thấy một người đàn ông Hồi giáo ăn mặc chỉnh tề như hình 30. Tuy nhiên, Hồi giáo là phải có râu trừ mấy thắng bé.

Hình 30. Trang phục của đàn ông Hồi giáo.

Phụ nữ Hồi giáo thì rất dễ nhận ra ở khắp nơi trên thế giới. Với chiếc khăn trùm kín đầu giữa trời nóng bức thì không thấy dễ chịu chút nào. Nghe những câu chuyện về phụ nữ Hồi giáo mà thấy phụ nữ Việt Nam thật may mắn. Trước đây, phụ nữ Hồi giáo phải che kín từ đầu đến chân. Thỉnh thoảng ở Jerusalem hoặc ngay cả ở sân bay Bangkok cũng thấy thế. Bây giờ thì họ cởi mở hơn một chút, khuôn mặt không nhất thiết phải bị che kín. Giống như một số nước như Ấn Độ, cưới xin là do gia đình sắp đặt. Người phụ nữ một khi về đến nhà chồng thì cả đời chỉ biết phục vụ chồng con mà thôi. Có một câu chuyện thế này, một cô gái Palestine bị một tên vô lại làm ô uế sự trong trắng. Gia đình nhà cô ta, thay cho việc thông cảm và an ủi người bị hại thì họ lại nguyền rủa và ép cô gái tự vẫn vì cô gái đã mang lại tủi nhục cho gia đình. Người Do thái luôn lải nhải, nếu là người tốt thì hãy tốt với chính những người thân của mình trước khi tốt với người khác. Con cái của mình mà không yêu thương thì nói chi đến yêu thương người khác. Tôi thấy cũng đúng.

Hình 31. Một số khách du lịch đến đây cũng quấn khăn theo kiểu Hồi giáo.

Hình 32. Ngay cả trẻ em Hồi giáo cũng phải mang bộ quần áo nặng nề và nóng bức.

Khác với các sử gia Việt Nam, các sự kiện lịch sử thường được các sử gia đưa ra theo kiểu "tầm chương, trích cú" dựa trên sách này, sách nọ. Từ các câu cú đó mà dựng lại lịch sử Việt Nam. Chính vì thế lịch sử thường không mang tính khoa học cao mà mang tính suy luận là chính. Lịch sử của Do thái thì được xây dựng hoàn toàn khác. Dân số Do thái trên toàn thế giới khoảng 12 triệu, riêng ở Israel là 6 triệu. Nếu trước đây có ai hỏi thành phố nào nhiều người Do thái sinh sống nhất trên thế giới thì câu trả lời không phải là Jerusalem hay Tel-aviv mà là New York. Nếu các bác liệt kê các vĩ nhân trên thế giới thì người Do thái chiếm một tỉ lệ không nhỏ như Eistein, Landau, Freud,... Nếu tính theo tỉ lệ vĩ nhân/đầu người thường thì Do thái cao nhất. Tại sao nhỉ? Phải chăng gene của Do thái tốt, Do thái thông minh hơn người khác? Do thái có nhiều vĩ nhân là vì người Do thái dù ở bất kì đâu cũng đều hiểu rất rõ lịch sử của dân tộc mình. Nhớ hầu hết các sự kiện quan trọng lịch sử của tổ tiên họ những sự kiện vĩ đại mà cả thế giới phải kính phục. Sở dĩ họ làm được điều này là bởi vì Do thái đã "tôn giáo hóa" lịch sử của họ. David là người thực, vua thực của Do thái và đã được các sử gia thần thánh hóa và đưa vào kinh thánh. Người Do thái sau khi tôn giáo hóa lịch sử thì họ vẫn tiếp tục viết lịch sử của mình và hàng ngày con cháu của họ phải học tập và ghi nhớ. Chúng ta hình dung, chúng ta sinh ra, lớn lên trong một bầu không khí lịch sử oai hùng, tư tưởng vĩ đại thì sẽ sinh ra những vĩ nhân. Jerusalem là một thành phố đặc biệt. Mỗi một thời đại thống trị sẽ xây dựng trên nền sụp đổ của thời đại trước đó. Khảo cổ học là một công cụ hữu hiệu cho lịch sử. Chỉ cần nói di vật đó ở tầng nào của Jerusalem là người ta có thể biết nó ở thời kì nào, rất rõ ràng, rất khoa học. Nhờ khảo cổ học mà người ta chứng minh được hầu hết các sự kiện quan trọng trong Cựu ước đều có thật.

Nơi trang trọng nhất của bảo tàng Jerusalem trưng bày một di vật có tuổi 2000 năm đó là kinh Torah được khắc lên tấm đồng. Di vật này được tìm thấy cách đây khoảng 50 năm khi người ta khai quật một di tích gần biển Chết. Tôi không có cái ảnh nào về di vật này vì người ta không cho chụp ảnh trong bảo tàng. Tuy nhiên điều tôi muốn kể là cảm xúc của tôi khi thấy một cô bé học sinh lần mò từng chữ ở cái di vật 2000 năm tuổi đó mà đọc không sót một chữ nào. Một anh bạn Do thái nói rằng, học sinh cấp một có thể đọc và hiểu tất cả những chữ trên tấm đồng đó. Ngôn ngữ mà người Do thái dùng bây giờ không khác gì ngôn ngữ của tổ phụ Cựu ước dùng trong suốt 2000 năm qua. Ngôn ngữ của cô bé cấp một Do thái ở Israel ngày nay không khác gì ngôn ngữ của David đã chiến thắng gã khổng lồ Goliad. Có bao nhiêu dân tộc còn lưu lại chữ viết của mình trong suốt 2000 năm mất nước?

Liên quan đến Diệt chủng Do thái thì các bạn đã xem nhiều phim lắm rồi. Tuy nhiên ta cứ hỏi tại sao dân tộc đó cứ ngoan ngoãn đi đến chỗ chết mà hầu như chẳng có phản kháng gì. Hình ảnh tiên lính Phát xít cầm súng bắn hết người này đến người khác, hình ảnh người Do thái cứ chịu trận rồi ngã xuống nấm mồ tập thể chính họ đào sẵn luôn ám ảnh mọi người. Nếu phải Việt Nam thì trước khi ta chết thì cũng phải cho thằng giết ta vài hòn gạch cho sứt đầu mẻ chán cái đã. Tôi đặt câu hỏi này với rất nhiều người Do thái khi đi thăm bào tàng Diệt chủng Do thái ở Jerusalem. Có nhiều câu trả lời nào là họ không có vũ khí, họ không biết họ sẽ chết, họ cầu Chúa đến cứu,... Nhưng theo tôi lời giải thích sau là có lý nhất: Dân Do thái không được chào đón ở bất kì nơi nào trên thế giới vào thời điểm trước đó. Nên nếu họ có trốn thoát rồi thì cũng bị bắt trở lại. Thỉnh thoảng các bạn có nghe thấy một số người Đức, Ba Lan cứu giúp Do thái, những người như vậy rất ít. Chẳng hạn, các bạn đọc Ai-van-hô se thấy xuất hiện lão nhà giàu Do thái keo kiệt. Tức là từ xa lắm rồi, những người không thừa nhận Jesus bị báng bổ ở khắp mọi nơi. Hơn nữa, dù mất nước 2000 năm và lang thang khắp nơi trên thế giới nhưng bao giờ họ cũng gắn bó với nhau, tuân thủ các điều răn của Chúa, nói tiếng tổ phụ Cựu ước,... Chính vì thế mà Do thái luôn khác với những người xung quanh. Chẳng ai thích thế cả và chính vì thế hầu như chẳng ai giúp họ trong thời kì bị Đức tàn sát.

Hình 33. Một nhà thờ Thiên chúa ở Jerusalem.

Ở Jerusalem có rất nhiều nhà thờ Thiên chúa. Mỗi một nhà thờ đều có hai câu hỏi mà khách du lịch cần hỏi: 1. Tại sao nó lại ở chỗ này. 2. Nó đã được xây bao nhiêu lần. Mỗi nơi Jesus từng đặt chân và được ghi trong Tân ước đều mọc lên nhà thờ, trả lời cho câu hỏi thứ nhất. Sau bao nhiêu kinh qua, các nhà thờ bị phá hủy và lại được xây lại trả lời cho câu hỏi thứ hai. Thường các nhà thờ thiên chúa được xây lại khoảng 6-7 lần.

Hình 34. Những bức tường do người Hồi giáo xây để chống lại cuộc thập tự chinh của người Thiên chúa vẫn còn đến ngày nay, uy nghi và hùng vĩ.

Hình 35. Vào ngày Shabath, các học sinh Do thái trong trang phục kín đáo màu xanh nhạt (gần màu cờ của Israel) đến đây để cầu Đấng cứu thế đến.

Hình 36. Cờ của Israel là ngôi sao David.

Cờ của Israel là Ngôi sao David, là một ngôi sao sáu cánh do hai hình tam giác lộn ngược lồng vào nhau. Các bạn mà xem phim "Davinci's code" sẽ thấy một suy nghĩ khá thú vị về ngôi sao này. Thiên chúa coi Do thái là dân ngoại. Bộ phim kể về dòng dõi của Jesus còn sống đến tận ngày nay. Có một nhóm người có trách nhiệm bảo vệ cho dòng dõi của Chúa. Tiếng Anh blood line - dòng máu của Chúa được biến hóa thành Rose line, chính vì thế thỉnh thoảng các bác có thấy người nước ngoài tên là Roseline. Những người này phải thực hiện các nghi lễ khoái lạc bí mật. Nó được giải thích bằng hình vẽ của ngôi sao David: hình tam giác có đỉnh hướng lên trên tượng trưng cho nam tính - thanh gươm sắc nhọn; hình tam giác đỉnh hướng xuống dưới biểu trưng cho nữ tính - một chiếc cốc. CHính vì thế mới có khái niệm chén thánh (holy grail), nếu xem bức tranh bữa tiệc cuối cùng của Davinci hoàn toàn không có cái chén nào hết. Cái chén chính là mã hóa của dạ con người phụ nữ - vợ của Jesus. Tìm chén thánh không phải là tìm cái chén của Jesus mà là tìm dòng dõi của Jesus. Biểu tượng nam nữ hòa hợp thành một ở ngôi sao David được bộ phim hiểu sang một ẩn dụ khác mà không được Do thái thích lắm. Tay guide Do thái của em chửi bới bộ phim thậm tệ, kết luận là đó là một câu chuyện viễn tưởng.

Nói chung người Do thái không được các dân tộc khác thích. Một số người cho rằng người Do thái quá kiêu ngạo, siêu hùng nhưng cực kì xấu xa, là dân được chọn nhưng cũng là tội đồ muôn thủa. Các bạn mà để ý, hình dáng của nước Israel và vùng bị Israel chiếm đóng giống hệt một con dao găm. Con dao này kéo dài từ Địa trung hải xuống tận Hồng hải và cắt vùng đất của Hồi giáo làm đôi. Israel bị chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của Đức tàn sát thì nay họ áp dụng chủ nghĩa phân biệt tôn giáo để đàn áp người Palestine. Chủ nghĩa Phục quốc Do thái do Herzl cầm đầu đã đi ra khỏi mục đích ban đầu của nó khi năm 1948 Liên hợp quốc thành lập nhà nước Israel để người Do thái và Hồi giáo cùng chung sống hòa bình không phân biệt tôn giáo.

Hình 37. Vùng đất Israel chiếm giống như một chiếc dao găm chia đôi thế giới Hồi giáo.

Người ta nói Jerusalem là tháp Babel của đức tin. Lăng kính của tâm trí con người khúc xạ ánh sáng của Chúa duy nhất thành những màu lòe loẹt, rối rắm. Bất kì hành động nào ở Israel đều là tâm điểm chú ý của 1,3 tỉ người Thiên chúa giáo, 1 tỉ người Hồi giáo và 13 triệu người Do thái.